Lịch sử của biểu tượng Con Cá


Bên cạnh "pisciculi Christianorum" (những chú cá nhỏ của các tín đồ Kitô/Cơ đốc), hình tượng người chăn cừu và con chiên, như chúng ta đã biết quá rõ, đóng một vai trò hầu như còn lớn hơn trong biểu tượng Cơ đốc giáo, và Hermes Kriophoros (vị thần mang cừu đực) đã trở thành nguyên mẫu của "người chăn chiên tốt lành", vị thần bảo hộ của các đàn gia súc. Một nguyên mẫu khác, trong vai trò người chăn cừu của mình, là Orpheus. Khía cạnh Poimen (Người chăn cừu) này đã tạo ra một nhân vật có tên tương tự trong các giáo phái bí truyền, người được phổ biến trong tác phẩm "Người Chăn Chiên" của Hermas (thế kỷ thứ 2). Giống như "con cá khổng lồ" được đề cập trong bản khắc Abercius, người chăn cừu có lẽ có mối liên hệ với Attis, cả về mặt thời gian lẫn khu vực. Reitzenstein thậm chí phỏng đoán rằng "Người Chăn Chiên" của Hermas bắt nguồn từ các tác phẩm Poimandres, vốn có nguồn gốc hoàn toàn ngoại giáo.

Biểu tượng người chăn chiên, cùng đàn chiên (cừu đực và cừu con) trùng khớp với sự kết thúc của thời đại (aeon) Bạch Dương (Aries). Trong thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên chúng ta, hai thời đại chồng lấn lên nhau, và hai vị thần bí truyền quan trọng nhất của giai đoạn này, Attis và Chúa Kitô, đều được đặc trưng hóa như là người chăn chiên, cừu đực và cá. Biểu tượng Poimen đã được Reitzenstein nghiên cứu kỹ lưỡng đến mức tôi không thể thêm điều gì làm sáng tỏ hơn về khía cạnh này. Trường hợp của biểu tượng con cá thì hơi khác. Không chỉ các nguồn tư liệu phong phú hơn, mà chính bản chất của biểu tượng, và đặc biệt là các khía cạnh lưỡng nguyên của nó, làm nảy sinh những câu hỏi tâm lý học xác định mà tôi muốn đi sâu tìm hiểu hơn.


Giống như mọi vị anh hùng, Chúa Kitô có một tuổi thơ bị đe dọa (cuộc tàn sát những trẻ thơ vô tội, cuộc chạy trốn đến Ai Cập). Sự "giải thích" chiêm tinh về điều này có thể được tìm thấy trong Khải Huyền 12:1: "Một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội mão triều thiên mười hai ngôi sao." Bà đang quằn quại khi sinh nở và bị một con rồng đuổi theo. Bà sẽ sinh ra một con trai, đấng sẽ "cai trị muôn dân bằng một cây gậy sắt." Câu chuyện này vang vọng như nhiều chủ đề tương tự ở cả phương Đông lẫn phương Tây, chẳng hạn như Leto và Python, Aphrodite và con trai bà, khi bị truy đuổi, đã nhảy xuống sông Euphrates và biến thành cá, và Isis cùng Horus ở Ai Cập. Người Hy Lạp ở Syria đồng nhất Derceto-Atargatis và con trai bà Ichthys với chòm sao Song Ngư (Pisces).

Nữ thần mẹ - và người phụ nữ đội vòng sao trong sách Khải Huyền được tính là một - thường được nghĩ đến như một trinh nữ (παρθένος-parthenos, virgo). Thông điệp Giáng sinh, Ἡπαρθένος τέτοκεν, αὔξει φῶς (Trinh nữ đã sinh con, ánh sáng gia tăng), là ngoại giáo. Nói về cái gọi là Korion ở Alexandria, Epiphanius kể rằng vào đêm Lễ Hiển Linh (5/6 tháng Giêng), những người ngoại giáo tổ chức một đại lễ:

Họ thức suốt đêm ca hát và thổi sáo, dâng những lễ vật này lên các hình tượng thần thánh; và, khi những cuộc truy hoan của đêm đã tàn, sau khi gà gáy, họ cầm đuốc đi xuống một thánh đường ngầm dưới đất và mang lên một bức tượng gỗ chạm khắc, được đặt trần truồng trên một chiếc kiệu. Trên trán nó có dấu thập tự bằng vàng, và trên cả hai tay là hai dấu khác cùng hình dạng, cùng hai dấu nữa trên đầu gối; và năm dấu này đều được làm bằng vàng. Họ khiêng bức tượng chạm khắc này bảy vòng quanh khu vực trung tâm của đền thờ, với âm thanh của sáo, trống lục lạc và thánh ca, và sau cuộc rước họ lại mang nó xuống hầm mộ. Nhưng nếu bạn hỏi họ buổi trình diễn bí ẩn này có ý nghĩa gì, họ trả lời: Hôm nay, vào giờ này, Kore, tức là trinh nữ, đã sinh ra Aeon (Thời Đại/Vĩnh Cửu).

Epiphanius tuyên bố rõ rằng ông không kể về một giáo phái Cơ đốc, mà là về những kẻ thờ thần tượng, và ông làm vậy để minh họa ý tưởng rằng ngay cả những người ngoại giáo cũng vô tình làm chứng cho sự thật của Cơ đốc giáo.


Virgo (Trinh Nữ), dấu hiệu hoàng đạo, mang bên mình một bó lúa mì hoặc một đứa trẻ. Một số học giả liên kết bà với "người nữ" trong sách Khải Huyền. Dù sao đi nữa, người phụ nữ này có liên quan đến lời tiên tri về sự ra đời của một Đấng Mêsia vào thời cuối cùng. Vì tác giả của Khải Huyền được cho là một tín đồ Cơ đốc, câu hỏi đặt ra là: Người phụ nữ mà được giải thích là mẹ của Đấng Mêsia, hay của Chúa Kitô, ám chỉ ai? Và con trai của người phụ nữ, người sẽ "chăn dắt (ποιμαίνειν) các dân ngoại bằng một cây gậy sắt" ám chỉ ai?

Vì đoạn văn này một mặt ám chỉ đến lời tiên tri Mêsia trong Isaiah 66:7, mặt khác đến sự thịnh nộ của Yahweh (Thi thiên 2:9), nó dường như ám chỉ theo cách nào đó đến sự tái sinh trong tương lai của Đấng Mêsia. Nhưng một ý tưởng như vậy là hoàn toàn không thể trong phạm vi Cơ đốc giáo. Boll nói về mô tả "con chiên" trong Khải Huyền 5:6 trở đi: "Hình tượng kỳ lạ đến lạ thường này với bảy sừng và bảy mắt không thể nào được giải thích bằng những thuật ngữ Cơ đốc." Hơn nữa, "con chiên" này phát triển một số đặc điểm hết sức bất ngờ: nó là một con chiên hiếu chiến, một kẻ chinh phục (Khải Huyền 17:14). Những kẻ quyền thế trên đất sẽ phải trốn tránh cơn thịnh nộ của nó (Khải Huyền 6:15 trở đi). Nó được ví như "sư tử của chi phái Giuđa" (Khải Huyền 5:5). Con chiên này, gợi nhớ đến Thi thiên 2:9 ("Con sẽ dùng gậy sắt đập chúng nó tan nát, khác nào bình gốm bị đập vụn ra"), lại gây cho người ta ấn tượng rùng rợn về một con cừu đực quỷ ám, chứ không chút nào giống một con chiên hiền lành bị dẫn đến lò sát sinh. Con chiên trong Khải Huyền, không còn nghi ngờ gì nữa, thuộc về loại quái vật có sừng được nhắc đến trong những lời tiên tri này. Người ta vì vậy phải xem xét câu hỏi liệu tác giả của Khải Huyền có bị ảnh hưởng bởi một ý tưởng mang tính đối kháng với Chúa Kitô theo nghĩa nào đó, có lẽ bởi một hình tượng bóng tối tâm lý, một "umbra Jesu" (bóng tối của Jesus), thứ đã hợp nhất với Chúa Jesus đắc thắng vào thời cuối cùng, thông qua một hành động tái sinh. Giả thuyết này sẽ giải thích sự lặp lại của huyền thoại sinh nở và cả sự thật tò mò rằng một kỳ vọng cánh chung quan trọng như sự xuất hiện của Kẻ Phản Chúa (Antichrist) lại chỉ được nhắc đến sơ sài trong Khải Huyền. Con cừu đực bảy sừng gần như là mọi thứ mà Jesus dường như không phải. Nó là một hình tượng bóng tối thực sự, nhưng không thể được mô tả là Kẻ Phản Chúa, vốn là một tạo vật của Satan. Bởi vì mặc dù con chiên quái dị, hiếu chiến là một hình tượng bóng tối theo nghĩa nó là đối tác của con chiên bị hiến tế, nó không hề đối kháng với Chúa như Kẻ Phản Chúa hẳn phải là. Sự nhân đôi hình tượng Chúa Kitô, do đó, không thể được truy ngược về sự phân chia giữa Chúa Kitô và Kẻ Phản Chúa, mà đúng hơn là do sự phẫn nộ chống La Mã của những tín đồ Cơ đốc gốc Do Thái, những người quay trở lại với vị thần báo thù của họ và Đấng Mêsia hiếu chiến của Ngài. Tác giả của Khải Huyền có lẽ đã quen thuộc với những suy đoán Do Thái giáo mà chúng ta biết thông qua truyền thống sau này. Chúng ta được kể trong Bereshith Rabbati của Moses ha-Darshan rằng Elias tìm thấy ở Bethlehem một phụ nữ trẻ ngồi trước cửa nhà với một đứa trẻ sơ sinh nằm trên đất bên cạnh, lốm đốm máu. Bà giải thích rằng con trai bà được sinh ra vào một giờ xấu, ngay khi đền thờ bị phá hủy. Elias khuyên bà chăm sóc đứa trẻ. Khi ông quay lại năm tuần sau, ông hỏi về con trai bà. "Nó không đi, không nhìn, không nói, không nghe, mà chỉ nằm đó như một hòn đá," người phụ nữ nói. Đột nhiên một cơn gió thổi từ bốn góc trời, cuốn đứa trẻ đi, và ném nó xuống biển. Elias than khóc rằng giờ thì hy vọng cứu rỗi Israel đã tan biến, nhưng một bath kol (tiếng nói từ trời) nói với ông:

Không phải vậy. Nó sẽ ở lại trong biển cả bốn trăm năm, và tám mươi năm trong khói bốc lên từ con cháu Korah, tám mươi năm dưới các cổng thành Rome, và thời gian còn lại nó sẽ lang thang khắp các thành phố lớn cho đến khi thời khắc cuối cùng đến.

Câu chuyện này mô tả một Đấng Mêsia, dù sinh ra ở Bethlehem, lại được sự can thiệp thần thánh đưa vào Cõi Bên Kia (biển = vô thức). Ngay từ thuở ban đầu, tuổi thơ của ngài đã bị đe dọa đến mức ngài hầu như không thể sống. Truyền thuyết này là triệu chứng của một sự yếu kém phi thường trong yếu tố Mêsia của Do Thái giáo và những nguy hiểm đi kèm, điều này sẽ giải thích sự trì hoãn trong sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Trong 560 năm, ngài vẫn tiềm ẩn, và chỉ sau đó sứ mệnh truyền giáo của ngài mới bắt đầu. Khoảng thời gian gián đoạn này không xa lắm so với 530 năm được nhắc đến trong lời tiên tri Talmud (xem đoạn 133), đủ gần để chúng ta so sánh chúng, nếu chúng ta coi truyền thuyết này ám chỉ đến Chúa Kitô. Trong biển cả vô hạn của những suy đoán Do Thái giáo, những tiếp xúc lẫn nhau kiểu này nhiều khả năng đã xảy ra. Do đó, mối đe dọa chết người đối với Đấng Mêsia và cái chết bạo lực của ngài là một chủ đề lặp lại trong những câu chuyện khác. Truyền thống sau này, chủ yếu là Kabbalah, nói về hai Đấng Mêsia, Đấng Mêsia ben Joseph (hoặc ben Ephraim) và Đấng Mêsia ben David. Họ được so sánh với Moses và Aaron, cũng như với hai con hoẵng, dựa trên thẩm quyền của Diễm ca 4:5: "Hai nương long mày như cặp hoẵng tơ, sanh đôi, đang ăn cỏ giữa đám hoa huệ." Đấng Mêsia ben Joseph, theo Phục truyền luật lệ ký 33:17, là "con đầu lòng của bò đực," và Đấng Mêsia ben David cưỡi trên một con lừa. Đấng Mêsia ben Joseph là đấng thứ nhất, Đấng Mêsia ben David là đấng thứ hai. Đấng Mêsia ben Joseph phải chết để "chuộc tội bằng máu của ngài cho con cái của Yahweh." Ngài sẽ ngã xuống trong cuộc chiến chống lại Gog và Magog, và Armilus sẽ giết ngài. Armilus là Kẻ Chống Mêsia (Anti-Messiah), kẻ được Satan sinh ra từ một khối đá cẩm thạch. Đến lượt mình, hắn sẽ bị Đấng Mêsia ben David giết chết. Sau đó, ben David sẽ đưa Jerusalem mới từ thiên đường xuống và làm ben Joseph sống lại. Ben Joseph này đóng một vai trò kỳ lạ trong truyền thống sau này. Tabari, nhà chú giải kinh Koran, đề cập rằng Kẻ Phản Chúa sẽ là một vị vua của người Do Thái, và trong Mashmi'a Yeshu'ah của Abarbanel, Đấng Mêsia ben Joseph thực sự là Kẻ Phản Chúa. Vì vậy, ngài không chỉ được đặc trưng như là Đấng Mêsia chịu khổ nạn, đối lập với Đấng Mêsia đắc thắng, mà cuối cùng còn được nghĩ đến như kẻ đối địch của ngài.

Như những truyền thống này cho thấy, sự yếu kém đã đề cập của yếu tố Mêsia nằm ở một sự phân chia mà cuối cùng trở thành một sự đối cực hoàn toàn. Sự phát triển này được báo trước trong văn học tôn giáo Ba Tư, trong ý tưởng tiền Cơ đốc về một enantiodromia (sự chuyển hóa sang mặt đối lập) của các thời đại vĩ đại, và sự suy thoái của điều thiện. Bahman Yast gọi Thời Đại Sắt thứ tư là "chủ quyền độc ác của những con quỷ với mái tóc rối bù của dòng giống Thịnh Nộ." Mặt khác, sự phân tách Đấng Mêsia thành hai là biểu hiện của một sự bất an nội tâm liên quan đến tính cách của Yahweh, sự bất công và không đáng tin cậy của Ngài hẳn đã gây sốc cho mọi tín đồ biết suy nghĩ kể từ thời Job. Job đặt ra vấn đề bằng những thuật ngữ rõ ràng, và Cơ đốc giáo đã đưa ra một câu trả lời cũng rõ ràng không kém. Thần bí Do Thái giáo, mặt khác, đã đi theo con đường riêng của nó, và những suy đoán của nó lượn lờ trên những vực sâu mà các nhà tư tưởng Cơ đốc đã làm hết sức để che đậy. Tôi không muốn khai triển chủ đề này ở đây, nhưng sẽ đề cập một câu chuyện do Ibn Ezra kể như một ví dụ. Ở Tây Ban Nha, ông nói, có một hiền triết vĩ đại được đồn là không thể đọc Thi thiên 89 vì nó làm ông quá buồn. Những câu thơ được nhắc đến là:

Ta sẽ chẳng rút tình thương thành tín khỏi người, 

Cũng chẳng hề phản bội lòng trung tín ta. 

Ta sẽ chẳng vi phạm giao ước ta, 

Cũng chẳng đổi lời đã ra khỏi môi ta. 

Một lần ta thề bởi sự thánh khiết ta, 

Ta chẳng nói dối với Đa-vít. 

Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, 

Ngôi người sẽ bền vững như mặt trời trước mặt ta. 

Như mặt trăng người được lập đời đời bền vững, 

Nhân chứng trên trời là thành tín. 

Nhưng bây giờ Ngài đã từ bỏ, khước từ, 

Ngài nổi thịnh nộ cùng đấng chịu xức dầu của Ngài. 

Ngài đã hủy bỏ giao ước với tôi tớ Ngài; 

Ngài đã ném mão triều thiên người xuống đất. 

Ngài đã phá đổ tất cả tường thành người; 

Ngài đã làm cho các đồn lũy người ra hoang vu.

Đó là vấn đề tương tự như trong Job. Là giá trị tối cao và quyền năng tối thượng trong hệ thống phân cấp tâm lý, hình ảnh Thiên Chúa có liên hệ trực tiếp, hoặc đồng nhất, với Bản Ngã (self), và mọi điều xảy ra với hình ảnh Thiên Chúa đều có tác động lên bản ngã. Bất kỳ sự không chắc chắn nào về hình ảnh Thiên Chúa đều gây ra một sự bất an sâu sắc trong bản ngã, đó là lý do tại sao câu hỏi này thường bị bỏ qua vì tính đau đớn của nó. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó không được đặt ra trong vô thức. Hơn thế nữa, nó được trả lời bởi những quan điểm và niềm tin như chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần, và những thứ thay thế tương tự, lan truyền như dịch bệnh. Chúng mọc lên bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào người ta chờ đợi một câu trả lời chính đáng trong vô vọng. Sản phẩm thay thế đàn áp câu hỏi thực sự vào vô thức và phá hủy tính liên tục của truyền thống lịch sử vốn là dấu ấn của nền văn minh. Kết quả là sự bối rối và hỗn loạn. Cơ đốc giáo đã nhấn mạnh lòng tốt của Thiên Chúa như một Người Cha yêu thương và đã làm hết sức để tước đoạt thực chất của cái ác. Lời tiên tri Cơ đốc giáo sơ khai về Kẻ Phản Chúa, và một số ý tưởng trong thần học Do Thái giáo cuối kỳ, lẽ ra có thể gợi ý cho chúng ta rằng câu trả lời Cơ đốc giáo cho vấn đề của Job đã bỏ qua hệ quả, thực tại nham hiểm của nó hiện đang được chứng minh trước mắt chúng ta bởi sự phân chia thế giới của chúng ta: sự hủy diệt hình ảnh Thiên Chúa được tiếp nối bởi sự hủy bỏ nhân cách con người. Chủ nghĩa vô thần duy vật với những ảo tưởng Không tưởng của nó tạo thành tôn giáo của tất cả những phong trào duy lý ủy thác tự do nhân cách cho quần chúng và do đó dập tắt nó. Những người bênh vực Cơ đốc giáo lãng phí năng lượng của họ vào việc bảo tồn những gì đã truyền lại cho họ, mà không nghĩ đến việc xây dựng thêm và mở rộng ngôi nhà của mình. Sự trì trệ trong những vấn đề này về lâu dài bị đe dọa bởi một kết thúc chết người.

Như Bousset đã đề xuất một cách hợp lý, tính nhị nguyên của Chúa Kitô trong Khải Huyền là kết quả của những suy đoán Do Thái - Ngộ đạo (Gnostic), mà tiếng vang chúng ta nghe thấy trong các truyền thống đã đề cập ở trên. Sự quan tâm sâu sắc của những người Ngộ đạo đến vấn đề cái ác nổi bật lên trong sự tương phản đáng kinh ngạc với sự phủ nhận dứt khoát nó bởi các giáo phụ, và cho thấy rằng câu hỏi này đã trở nên thời sự vào đầu thế kỷ thứ ba. Trong mối liên hệ này, chúng ta có thể nhớ lại quan điểm được Valentinus thể hiện, rằng Chúa Kitô được sinh ra "không phải không có một loại bóng tối nào đó" và rằng sau đó ngài "gột bỏ bóng tối ra khỏi chính mình." Valentinus sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ hai, và Khải Huyền có lẽ được viết vào khoảng năm 90 sau Công nguyên, dưới thời Domitian. Giống như những người Ngộ đạo khác, Valentinus đã đưa các sách phúc âm tiến thêm một bước trong suy nghĩ của mình, và vì lý do này, đối với tôi dường như không phải là không thể rằng ông hiểu "bóng tối" như là luật Yahweh mà Chúa được sinh ra dưới đó. Khải Huyền và những điều khác trong Tân Ước rất dễ dàng thúc đẩy ông đến một quan điểm như vậy, tách rời khỏi những ý tưởng đương thời hơn hoặc ít hơn về Demiurge (Đấng Tạo Hóa thứ cấp) và Ogdoad nguyên thủy bao gồm ánh sáng và bóng tối. Không chắc chắn liệu sự nghi ngờ của Origen về số phận cuối cùng của ma quỷ có phải là nguyên bản hay không; dù sao đi nữa, nó chứng minh rằng khả năng ma quỷ đoàn tụ với Thiên Chúa đã là một đối tượng thảo luận từ rất sớm, và thực sự phải như vậy nếu triết học Cơ đốc giáo không kết thúc trong thuyết nhị nguyên. Người ta không nên quên rằng lý thuyết privatio boni (sự thiếu hụt của điều thiện) không giải quyết được tính vĩnh cửu của địa ngục và sự trừng phạt. Nhân tính của Thiên Chúa cũng là một biểu hiện của thuyết nhị nguyên, như cuộc tranh cãi của phái Nhất Tính (Monophysites) và phái Nhị Tính (Dyophysites) trong Giáo hội sơ khai cho thấy. Ngoài ý nghĩa tôn giáo của quyết định ủng hộ sự hợp nhất hoàn toàn của cả hai bản tính, tôi xin đề cập trong lúc này rằng giáo lý Nhất Tính có một khía cạnh tâm lý học đáng chú ý: nó nói với chúng ta (bằng ngôn ngữ tâm lý học) rằng vì Chúa Kitô, với tư cách con người, tương ứng với cái tôi (ego), và với tư cách Thiên Chúa, tương ứng với bản ngã (self), ngài đồng thời là cả cái tôi lẫn bản ngã, một phần và toàn thể. Về mặt thực nghiệm, ý thức không bao giờ có thể bao quát được toàn thể, nhưng có lẽ toàn thể hiện diện một cách vô thức trong cái tôi. Điều này sẽ tương đương với trạng thái τελείωσις (sự viên mãn hoặc hoàn hảo) cao nhất có thể.

Tôi đã dừng lại khá lâu về các khía cạnh nhị nguyên của hình tượng Chúa Kitô bởi vì, thông qua biểu tượng con cá, Chúa Kitô đã được đồng hóa vào một thế giới ý tưởng dường như xa lạ với các sách phúc âm - một thế giới có nguồn gốc ngoại giáo, thấm đẫm những niềm tin chiêm tinh đến mức chúng ta hầu như không thể tưởng tượng được ngày nay. Chúa Kitô được sinh ra vào đầu thời đại Song Ngư. Không hề loại trừ khả năng rằng có những tín đồ Cơ đốc có học thức biết về coniunctio maxima (sự kết hợp lớn nhất) của Sao Mộc và Sao Thổ trong Song Ngư vào năm 7 trước Công nguyên, cũng như, theo các báo cáo phúc âm, có những nhà chiêm tinh Chaldaea thực sự tìm thấy nơi sinh của Chúa. Tuy nhiên, Song Ngư là một dấu hiệu kép.

Vào nửa đêm đêm Giáng sinh, khi (theo cách tính thời gian cũ) mặt trời đi vào Ma Kết (Capricorn), Trinh Nữ (Virgo) đang đứng trên đường chân trời phía đông, và sớm được theo sau bởi Con Rắn được giữ bởi Ophiuchus, "Người Mang Rắn." Sự trùng hợp chiêm tinh này đối với tôi dường như đáng được đề cập, cũng như quan điểm rằng hai con cá là mẹ và con. Ý tưởng sau có một ý nghĩa khá đặc biệt vì mối quan hệ này gợi ý rằng hai con cá ban đầu là một. Trên thực tế, chiêm tinh Babylon và Ấn Độ chỉ biết đến một con cá. Sau này, người mẹ này rõ ràng đã sinh ra một đứa con trai, cũng là một con cá giống bà. Điều tương tự xảy ra với Derceto-Atargatis của người Phoenicia, chính bà là nửa cá, có một con trai tên là Ichthys. Rất có thể "dấu hiệu của tiên tri Jonah" bắt nguồn từ một truyền thống cổ hơn về một cuộc hành trình đêm trên biển anh hùng và sự chinh phục cái chết, nơi anh hùng bị một con cá ("rồng-cá voi") nuốt chửng và sau đó được tái sinh. Cái tên cứu rỗi Joshua (Yehoshua, Yeshua, tiếng Hy Lạp là Iesous) có liên hệ với con cá: Joshua là con trai của Nun, và Nun có nghĩa là 'cá.' Joshua ben Nun trong truyền thuyết Khidr đã giao dịch với một con cá vốn được định để ăn nhưng đã được hồi sinh bởi một giọt nước từ suối nguồn sự sống.

Các Nữ Thần Mẹ Vĩ đại trong thần thoại thường là mối nguy hiểm cho con trai của họ. Jeremias đề cập đến một hình ảnh con cá trên một ngọn đèn Cơ đốc giáo sơ khai, cho thấy một con cá đang nuốt con cá kia. Tên của ngôi sao lớn nhất trong chòm sao được gọi là Cá Phương Nam - Fomalhaut, 'miệng của con cá' - có thể được giải thích theo nghĩa này, cũng như trong biểu tượng cá, mọi hình thức concupiscentia (tham dục) nuốt chửng có thể tưởng tượng được đều được quy cho cá, chúng được cho là "tham vọng, dâm đãng, tham ăn, tham lam, dâm ô" - tóm lại, một biểu tượng của sự phù phiếm của thế gian và những thú vui trần tục (voluptas terrena). Chúng mang những phẩm chất xấu xa này nhiều nhất là do mối quan hệ của chúng với nữ thần tình yêu và mẹ Ishtar, Astarte, Atargatis, hay Aphrodite. Là hành tinh Venus, bà có "sự tôn cao" (exaltatio) của mình trong dấu hiệu hoàng đạo Song Ngư. Vì vậy, trong truyền thống chiêm tinh cũng như trong lịch sử biểu tượng, cá luôn gắn liền với những phẩm chất đáng khinh này, trong khi mặt khác lại đòi hỏi một ý nghĩa đặc biệt và cao hơn. Sự đòi hỏi này dựa trên - ít nhất là trong chiêm tinh - thực tế rằng bất cứ ai sinh ra dưới Song Ngư có thể hy vọng trở thành một ngư dân hoặc một thủy thủ, và trong vai trò đó bắt cá hoặc thống trị biển cả - một tiếng vọng của sự đồng nhất nguyên thủy theo vật tổ giữa thợ săn và con mồi của anh ta. Anh hùng văn hóa Babylon Oannes chính bản thân là một con cá, và Ichthys Cơ đốc là một kẻ chài lưới người (fisher of men) xuất sắc. Về mặt biểu tượng, ngài thực sự là cái lưỡi câu hoặc mồi trên cần câu của Thiên Chúa mà Leviathan - cái chết hoặc ma quỷ - bị bắt. Trong truyền thống Do Thái, Leviathan là một loại thức ăn thánh thể được dự trữ cho các tín đồ trong Thiên Đàng. Sau khi chết, họ khoác lên mình những bộ áo choàng bằng da cá. Chúa Kitô không chỉ là ngư phủ mà còn là con cá được ăn một cách "thánh thể." Augustine nói trong cuốn Tự Thú của ông: "Nhưng [trái đất] ăn con cá đã được kéo lên từ vực sâu, tại bàn ăn mà Ngài đã chuẩn bị cho những kẻ tin; vì con cá đã được kéo lên từ vực sâu để nuôi dưỡng những kẻ túng thiếu trên đất." Thánh Augustine đang đề cập đến bữa ăn cá được các môn đồ ăn tại Emmaus (Luke 24:43). Chúng ta bắt gặp "con cá chữa bệnh" trong câu chuyện về Tobit: thiên sứ Raphael giúp Tobit bắt con cá định ăn thịt ông, và chỉ cho ông cách tạo ra một "khói" ma thuật chống lại tà linh từ tim và gan của cá, và làm thế nào ông có thể chữa bệnh mù lòa của cha mình bằng mật của nó (Tobit 6:1 trở đi).

Thánh Peter Damian (mất năm 1072) mô tả các tu sĩ như những con cá, bởi vì tất cả những người sùng đạo là những con cá nhỏ nhảy trong lưới của Ngư Phủ Vĩ đại. Trong bản khắc Pectorios (đầu thế kỷ thứ tư), những tín đồ được gọi là "hậu duệ thần thánh của cá thiên đàng."

Cá của Manu là một đấng cứu tinh, được đồng nhất trong truyền thuyết với Vishnu, người đã mang hình dạng một con cá nhỏ bằng vàng. Ngài cầu xin Manu đưa ngài về nhà, vì ngài sợ bị những quái vật nước ăn thịt. Sau đó ngài lớn lên rất mạnh mẽ, theo kiểu cổ tích, và cuối cùng giải cứu Manu khỏi trận đại hồng thủy. Vào ngày thứ mười hai của tháng đầu tiên trong năm Ấn Độ, một con cá vàng được đặt trong một bát nước và được cầu khẩn như sau: "Như Ngài, lạy Thiên Chúa, trong hình dạng một con cá, đã cứu các kinh Veda ở thế giới ngầm, xin cũng hãy cứu con, lạy Keshava!" De Gubernatis và các nhà nghiên cứu sau ông đã cố gắng suy dẫn con cá Cơ đốc từ Ấn Độ. Ảnh hưởng Ấn Độ không phải là không thể, vì các mối quan hệ với Ấn Độ đã tồn tại ngay cả trước Chúa Kitô và các dòng chảy tâm linh khác nhau từ phương Đông đã tạo ảnh hưởng trong Cơ đốc giáo sơ khai, như chúng ta biết từ các báo cáo của Hippolytus và Epiphanius. Tuy nhiên, không có lý do nghiêm túc nào để suy dẫn con cá từ Ấn Độ, vì biểu tượng cá phương Tây quá phong phú và đồng thời quá nguyên thủy đến mức chúng ta có thể coi nó như là bản địa một cách an toàn.

Vì Song Ngư đại diện cho mẹ và con, bi kịch thần thoại về cái chết sớm và sự phục sinh của người con đã ngầm ẩn trong chúng. Là dấu hiệu thứ mười hai của Hoàng Đạo, Song Ngư biểu thị sự kết thúc của năm chiêm tinh và cũng là một khởi đầu mới. Đặc điểm này trùng khớp với tuyên bố của Cơ đốc giáo là sự khởi đầu và kết thúc của vạn vật, và với kỳ vọng cánh chung của nó về sự kết thúc thế giới và sự xuất hiện của Vương quốc Thiên Chúa. Như vậy, các đặc điểm chiêm tinh của con cá chứa các thành phần cốt yếu của huyền thoại Cơ đốc; thứ nhất, thập tự giá; thứ hai, xung đột đạo đức và sự phân tách của nó thành các hình tượng Chúa Kitô và Kẻ Phản Chúa; thứ ba, chủ đề con trai của một trinh nữ; thứ tư, bi kịch mẹ-con kinh điển; thứ năm, nguy hiểm khi sinh nở; và thứ sáu, đấng cứu tinh và mang đến sự chữa lành. Vì vậy, việc liên hệ danh xưng Chúa Kitô Christ như một con cá với thời đại mới đang lúc đó không phải là không đúng chỗ. Nếu mối quan hệ này đã tồn tại ngay cả trong thời cổ đại, rõ ràng nó phải là một giả định ngầm hoặc được cố ý giữ bí mật; vì, theo như tôi biết, không có bằng chứng nào trong văn học cổ cho thấy biểu tượng cá Cơ đốc được suy dẫn từ hoàng đạo. Hơn nữa, bằng chứng chiêm tinh cho đến thế kỷ thứ hai sau Công nguyên hoàn toàn không phải là loại mà sự đối lập Chúa/Kẻ Phản Chúa có thể được suy dẫn một cách nhân quả từ tính đối cực của Song Ngư, vì điều này, như tài liệu chúng tôi đã trích dẫn cho thấy, đã không được nhấn mạnh như là có ý nghĩa theo bất kỳ cách nào. Cuối cùng, như Doelger nhấn mạnh, Ichthys luôn được nghĩ đến như chỉ là một con cá, mặc dù ở đây chúng ta phải chỉ ra rằng trong cách giải thích chiêm tinh, Chúa Kitô thực sự chỉ là một trong những con cá, vai trò của con cá còn lại được phân cho Kẻ Phản Chúa. Nói tóm lại, không có căn cứ nào để cho rằng zodion (dấu hiệu hoàng đạo) của Song Ngư có thể đã đóng vai trò như nguyên mẫu của Ichthys.


Biểu tượng cá ngoại giáo đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong so sánh. Quan trọng nhất là tài liệu Do Thái giáo được Scheftelowitz tập hợp. "Chén chúc phúc" Do Thái giáo đôi khi được trang trí bằng hình ảnh cá, vì cá là thức ăn của những người được phúc ở Thiên Đàng. Chén được đặt trong mộ của người chết như một tặng phẩm mai táng. Cá có sự phân bố rộng như những biểu tượng mộ táng. Con cá Cơ đốc xuất hiện chủ yếu trong mối liên hệ này. Những tín đồ Israel sùng đạo sống "trong nước của giáo lý" được ví như cá. Sự so sánh này là hiển nhiên vào khoảng năm 100 sau Công nguyên. Con cá cũng có ý nghĩa Mêsia. Theo Khải Huyền Baruch của Syria, Leviathan sẽ trồi lên từ biển cả với sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Đây có lẽ là "con cá rất lớn" của bản khắc Abercius, tương ứng với "con cá từ suối nguồn" được nhắc đến trong một cuộc tranh luận tôn giáo tại triều đình Sassanids (thế kỷ thứ 5). Suối nguồn đề cập đến Hera của Babylon, nhưng trong ngôn ngữ Cơ đốc nó có nghĩa là Mary, người trong các vòng tròn chính thống cũng như Ngộ đạo (Công vụ của Thomas) được cầu khẩn là πηγή, 'suối nguồn.' Như vậy, chúng ta đọc trong một bài thánh ca của Synesius (khoảng năm 350): Πηγή πηγαίων, ἀρχῶν ἀρχή, ῥιζῶν ῥίζα, μονὰς εἶ μοναδῶν, κτλ (Suối nguồn của các suối nguồn, khởi nguyên của các khởi nguyên, cội rễ của các cội rễ, đơn nguyên của các đơn nguyên là Ngài.) Suối nguồn của Hera cũng được cho là chứa một con cá duy nhất (μόνον ἰχθύν) được bắt bằng "lưỡi câu của thần tính" và "nuôi dưỡng cả thế giới bằng thịt của nó." Trong một bức vẽ bình Beotia, "quý bà của muông thú" được thể hiện với một con cá giữa hai chân, hoặc trong cơ thể bà, có lẽ chỉ ra rằng con cá là con trai bà. Mặc dù, trong cuộc tranh luận Sassanid, truyền thuyết về Mary được chuyển sang Hera, "con cá duy nhất" bị liên kết không tương ứng với biểu tượng Cơ đốc, vì trong biểu tượng Cơ đốc, cây thánh giá là lưỡi câu hoặc mồi mà Thiên Chúa dùng để bắt Leviathan, kẻ hoặc là cái chết hoặc ma quỷ ("con rắn xưa kia") chứ không phải Đấng Mêsia. Mặt khác, trong truyền thống Do Thái, pharmakon athanasias (phương thuốc bất tử) là thịt của Leviathan, "con cá Mêsia," như Scheftelowitz nói. Talmud Sanhedrin nói rằng Đấng Mêsia "sẽ không đến cho đến khi một con cá được tìm kiếm cho một người bệnh và không thể kiếm được." Theo Khải Huyền của Baruch, Behemoth cũng như Leviathan là một thức ăn thánh thể. Điều này bị cố tình bỏ qua. Như tôi đã giải thích ở nơi khác, hai con quái vật tiền sử của Yahweh dường như đại diện cho một cặp đối lập, một con rõ ràng là động vật trên cạn, và con kia sống dưới nước.


Từ xa xưa, không chỉ người Do Thái mà trên khắp Cận Đông, sự ra đời của một con người xuất chúng được đồng nhất với sự mọc lên của một ngôi sao. Như vậy, Balaam tiên tri (Dân số ký 24:17): 

Ta nhìn thấy người, nhưng chẳng phải bây giờ; 

Ta xem người, nhưng chẳng đến gần; 

Một ngôi sao hiện ra từ Jacob...

Hy vọng về một Đấng Mêsia luôn luôn được kết nối với sự xuất hiện của một ngôi sao. Theo Zohar, con cá nuốt Jonah đã chết, nhưng sống lại sau ba ngày và sau đó phun ông ta ra. "Thông qua con cá, chúng ta sẽ tìm thấy một phương thuốc cho cả thế giới." Văn bản này là thời trung cổ nhưng đến từ một nguồn đáng tin cậy. "Con cá rất lớn và tinh khiết từ suối nguồn" được nhắc đến trong bản khắc Abercius, theo ý kiến của Scheftelowitz, không ai khác chính là Leviathan, không chỉ là con cá lớn nhất mà còn được coi là tinh khiết, như Scheftelowitz chỉ ra bằng cách trích dẫn các đoạn liên quan từ văn học Talmud. Trong mối liên hệ này, chúng ta cũng có thể đề cập đến "con cá một và duy nhất" (εὔικον ἰχθύς) được ghi lại trong "Sự Kiện ở Ba Tư."

- Dịch từ Aion - Carl Gustav Jung -

Nhận xét

Popular Posts

Kỹ năng quan trọng nhất không ai dạy bạn - Zat Rana

Mark Manson: Qui tắc của Kant

Những lời chúc khai trương cửa hàng, doanh nghiệp hay nhất

Dành cho người khởi nghiệp: Sức mạnh của việc Không Làm Gì

Machine Learning cho mọi người - 5: Học tăng cường (Reinforcement Learning)