Chatbot của người chết
Năm 1970, một ông cụ 57 tuổi đã ra đi vì bệnh tim ngay tại nhà ở Queens, New York. Fredric Kurzweil, nghệ sĩ piano tài ba kiêm nhạc trưởng, sinh ra là người Do Thái ở Vienna năm 1912. Khi lũ Nazi "ghé thăm" Áo năm 1938, một ân nhân Mỹ đã tài trợ cho Fred di cư sang Mỹ và cứu mạng ông. Sau đó, ông trở thành giáo sư âm nhạc và chỉ huy dàn hợp xướng lẫn dàn nhạc khắp nơi trên đất Mỹ. Khi chạy trốn khỏi châu Âu, Fred mang theo gần như chẳng gì cả – nhưng sang Mỹ rồi, ông lại "giữ" mọi thứ! Ông giữ khư khư giấy tờ chính thức về cuộc đời mình, bài giảng, ghi chép, chương trình biểu diễn, báo chí liên quan đến công việc, thư từ gửi và nhận, thậm chí cả nhật ký cá nhân. Ông ấy như kiểu "nghệ sĩ tiết kiệm" ấy, biến mọi thứ thành báu vật!
Suốt 50 năm sau khi Fred qua đời, con trai ông, Ray, giữ đống tài liệu ấy trong một kho chứa. Đến năm 2018, Ray hợp tác với con gái Amy để số hóa toàn bộ mớ viết tay gốc của bố. Rồi ông "nuôi" đống dữ liệu số đó cho một thuật toán, và voila! – một chatbot ra đời, mô phỏng cuộc trò chuyện với ông bố mà ông nhớ nhung vì mất quá sớm. Chatbot này kiểu "kén chọn" lắm, chỉ trả lời bằng những câu Fred từng viết thật sự trong đời. Nhờ nó, Ray có thể "nói chuyện" với phiên bản đại diện của bố, kiểu như Ray bảo: "Cảm giác như đang tám với ông ấy." Còn Amy, cô nàng đồng tác giả bài luận này và sinh ra sau khi Fred đi xa, thì được "diễn" một cuộc trò chuyện với ông tổ mà cô chưa từng gặp. Hay ho chưa?
'Fredbot' là một ví dụ điển hình của công nghệ gọi là "chatbot của người chết", những con bot được thiết kế để nói bằng giọng điệu của những người đã khuất cụ thể. Các ví dụ khác thì đầy rẫy: Năm 2016, Eugenia Kuyda tạo chatbot từ tin nhắn của bạn trai Roman Mazurenko, chàng trai xấu số chết vì tai nạn giao thông. Roman Bot đầu tiên giống Fredbot, kiểu chọn lọc, nhưng phiên bản sau thì "sáng tạo" hơn, tự sinh ra câu trả lời mới mẻ nhưng vẫn mang giọng điệu của Mazurenko. Năm 2020, nghệ sĩ kiêm nhạc sĩ Laurie Anderson dùng đống viết lách và lời bài hát của chồng quá cố, ông Lou Reed – đồng sáng lập Velvet Underground – để tạo chương trình generative, kiểu cộng sự sáng tạo mà bà trò chuyện cùng. Còn năm 2021, nhà báo James Vlahos ra mắt HereAfter AI, app cho ai cũng dùng được để tạo chatbot tương tác gọi là 'avatar - câu chuyện cuộc đời', dựa trên ký ức của người thân yêu. Ngày nay, các công ty "tái chế ký ức" mọc lên như nấm: Life Story AI, Project Infinite Life, Project December – danh sách dài dằng dặc, kiểu như buffet công nghệ ấy!
Những app và thuật toán này thuộc lớp công nghệ đang bùng nổ, kết hợp AI với dữ liệu mà con người để lại. Chúng sẽ ngày càng xịn sò và dễ tiếp cận hơn khi mô hình ngôn ngữ lớn phổ biến, và dữ liệu cá nhân "bất tử" trên đám mây. Với một số người, chatbot của người chết là công cụ hữu ích để ta đau buồn, nhớ nhung và suy ngẫm về những người đã mất. Với kẻ khác, chúng là công nghệ "vô hồn" dẫn đến thế giới dystopian kiểu phim khoa học viễn tưởng rẻ tiền. Chúng khơi lên đủ thứ câu hỏi đạo đức về sự đồng ý, sở hữu, ký ức và độ chính xác lịch sử: Ai được phép tạo, kiểm soát hay kiếm tiền từ những "bản sao" này? Làm sao hiểu những chatbot dường như bóp méo quá khứ? Nhưng với chúng ta, lo lắng sâu sắc nhất là chúng ảnh hưởng thế nào đến mối quan hệ của ta với người chết. Chúng có phải là "thay thế giả tạo" chỉ nhằm che đậy nỗi đau không? Hay có gì đó quý giá riêng khi tám với mô phỏng của người đã khuất?
Những mối dây ta kết nối với người khác làm cuộc đời thêm ý nghĩa và ấm áp, nhưng thời gian và cái chết thì cứ "phá đám" không thương tiếc. Mất mát sâu sắc là không tránh khỏi. Đó là lý do mọi nền văn hóa nhân loại đều phát triển nghi thức, chuyện kể và tài nguyên khác để đối phó với cái chết của người thân. Trong Sách 11 của Odyssey - Homer, còn gọi là Nekyia (hay Sách Người Chết), Odysseus lặn lội xuống địa ngục và gặp mẹ đã chết, Anticlea, giờ thành bóng ma – linh hồn ông không ôm ấp được. Kiểu "gặp mà không gặp" ấy, buồn cười mà thảm!
Người Ai Cập cổ đại có Sách Người Chết riêng – bộ sưu tập văn bản viết trên giấy cói và tường mộ – với bùa chú hướng dẫn linh hồn lạc lối vào kiếp sau, hy vọng được bất tử. Cùng với chuyện cổ và bùa phép ấy là các nghi thức vẫn tiếp diễn để "tiếp xúc" người chết. Ở một số văn hóa Á Đông, cổng địa ngục mở toang trong "Tháng Ma" , "Tháng Cô Hồn", linh hồn tổ tiên lang thang tự do giữa nhân gian. Tương tự, Día de Los Muertos của Mexico là dịp nhớ thương và ăn mừng, khi sống và chết "tám chuyện". Các nghi thức khác kín đáo hơn. Trong văn hóa Do Thái, ngồi shiva – bảy ngày ngay sau tang lễ – tạo không gian có cấu trúc để mọi người tụ họp quanh ký ức người mất. Ở Nhật, butsudan – bàn thờ Phật nhỏ trong nhà để tôn vinh người thân quá cố – hỗ trợ duy trì mối dây với tổ tiên.
Những niềm tin và thực hành văn hóa này mang hy vọng rằng người sống một ngày nào đó sẽ thỏa mãn khát khao trò chuyện với người chết. Chúng giúp ta vượt qua nỗi đau bằng cách gợi ý cộng đồng nhân loại vượt qua mất mát, và tình yêu không chết chừng nào ký ức còn sống.
Khi ai đó chết, người "lý trí" được mong đợi là kéo rèm mối quan hệ ấy và bước tiếp. Kiểu "cảm ơn và tạm biệt" ấy, nghe thì hay ho nhưng thực tế thì... khó!
Nhưng ở Tây phương công nghiệp hóa, cộng đồng hỗ trợ đang sụp đổ. Các thể chế tinh thần, thực hành và niềm tin bị "lột xác" qua hàng thế kỷ mất mị lực. Điều này gợi ý rằng hiện đại công nghệ, với cam kết lý tính khoa học, chính là "thủ phạm" cho mối quan hệ nghèo nàn với cái chết ở phương Tây.
Làm người lý trí ở Tây phương công nghiệp là ưu tiên những gì nhìn thấy, sờ được và đo lường. Khi ai đó chết, người lý trí mong đợi kéo rèm và bước tiếp. Thay vì mang tài nguyên tinh thần mới, văn hóa công nghệ của ta dường như cung cấp đống dụng cụ khôn ngoan để ta quay lưng với cái chết: thuốc men hoãn lại, giải trí xoa dịu, ma túy làm ngu ngốc, và công nghệ khác giúp tránh né. Người trung bình bị ngập trong hình ảnh cách điệu về cái chết, trong khi bị cô lập khỏi trải nghiệm thực sự ý nghĩa. Trong khi đó, tiến bộ công nghệ ngấm ngầm hứa hẹn vượt qua cái chết, kiểu eschatology cơ khí siêu việt.
Tuy nhiên, dù năng động đến đâu, sự khôn ngoan công nghệ này chưa dập tắt nghi ngờ rằng không có giải pháp kỹ thuật cho vấn đề tinh thần. Người ta thường bảo rằng thay vì đáp ứng nhu cầu, dụng cụ của ta chỉ giúp phủ nhận thực tế cái chết. Với một số người, những công nghệ này chỉ là "dụng cụ ướp xác", che đậy nỗi đau mất mát không tránh khỏi. Và trong đống dụng cụ ấy, còn gì độc hại hơn chatbot nói bằng giọng người đã thực sự ra đi vĩnh viễn?
Từ thuở ban đầu, công nghệ chatbot gắn liền với ảo tưởng và bị nghi ngờ. Một trong những chatbot đầu tiên và nổi tiếng nhất, ELIZA, do giáo sư MIT Joseph Weizenbaum tạo năm 1960, ông tiên phong trong lĩnh vực máy tính, sau đó thành nhà phê bình, sau này gọi AI là "chỉ số điên rồ của thế giới". ELIZA giả làm nhà tâm lý trị liệu, dùng phát hiện từ khóa và quy tắc lập trình sẵn để hỏi câu cơ bản, thúc đẩy người dùng nói ra và suy ngẫm. Dù thô sơ theo chuẩn ngày nay, mọi người thấy ELIZA cuốn hút. Khi thư ký Weizenbaum xin "riêng tư" với chatbot, ông coi đó là bằng chứng cô ấy lầm tưởng máy có tâm trí. Kết quả, Weizenbaum tin rằng ngay chatbot đơn giản như ELIZA cũng "gây ảo tưởng mạnh mẽ ở người bình thường". Ngày nay, chatbot dùng học máy thay quy tắc sẵn, có thể tám chuyện tinh tế bằng suy luận, trả lời câu hỏi, theo dõi ngữ cảnh và giả định trò chuyện. Chúng tạo trải nghiệm trò chuyện hấp dẫn giống người đối thoại hơn ELIZA nhiều.
Dù chatbot đã tồn tại từ lâu, chatbot của người chết là sáng tạo mới nhờ tiến bộ lập trình gần đây và dữ liệu cá nhân lan tràn. Cơ bản, chúng được tạo ra bằng kết hợp học máy với viết lách cá nhân như tin nhắn, email, thư từ, nhật ký – phản ánh giọng điệu, cú pháp, thái độ và tật xấu riêng. Có nhiều cách kết hợp. Phương pháp tốn tài nguyên: huấn luyện mô hình ngôn ngữ mới từ viết lách cá nhân. Phương pháp đơn giản hơn: chỉ dẫn chatbot huấn luyện sẵn như ChatGPT dùng dữ liệu cá nhân trong cửa sổ ngữ cảnh. Cả hai cho phép chatbot nói giống người chết bằng cách 'chọn lọc' câu thật, 'sáng tạo' câu mới giống thật, hoặc kết hợp.
Chatbot của người chết kiếm tiền hoặc game hóa có thể nguy hiểm nếu rơi vào tay công ty vô đạo đức.
Chatbot có thể dùng riêng hoặc kết hợp AI khác như nhân bản giọng nói, deepfake, tạo đại diện tương tác của người chết. Với dữ liệu đúng, nhiều công ty nay có khả năng tạo AI trò chuyện từ người thân quá cố. Tương lai, chúng phổ biến và xịn hơn, không chỉ văn bản. Giống nhà ngoại cảm và bàn cầu cơ, bot đáp ứng khát khao sâu thẳm: nói chuyện với người chết lần nữa.
Nhiều nhà phê bình coi nỗ lực công nghệ này là dạng phủ nhận cái chết thảm hại nhất. Phản đối phổ biến: người dùng dễ tổn thương có thể đầu tư quá mức, lẫn lộn chatbot với người chết, hoặc quên mất họ đã ra đi. Như triết gia Patrick Stokes trong Digital Souls (2021), ta có thể "quen với avatar người chết đến mức chấp nhận và đối xử như họ là thật". Lo lắng này gợi ý, như Weizenbaum sợ, tiềm năng chatbot dựa trên ảo tưởng.
Lo lắng khác liên quan tới thiếu đời sống nội tâm của chatbot. Nhà phê bình như Shannon Vallor trong The AI Mirror (2024) lập luận mối dây cảm xúc với thực thể không đáp lại tình cảm hay hứng thú là khiếm khuyết, tình yêu sống nhờ "lý tính kinh tế trao đổi" thay vì "liên minh mong manh của cảm xúc yêu thương và hành động". Những mối quan hệ một chiều này rủi ro phụ thuộc quá mức, cô lập xã hội và bóc lột. Rủi ro rõ rệt vì chatbot người chết có thể do công ty có động cơ tài chính thao túng người dùng, tối đa tương tác. Chatbot kiếm tiền cao (mở khóa đặc tính "yêu thương" với phí nhỏ!) hoặc game hóa (tám hàng ngày để lên level!) có thể là công cụ nguy hiểm trong tay công ty vô đạo đức.
Những phê phán này thường ngầm giả định mục đích chatbot người chết là thay thế người thân mất, kiểu bạn đồng hành giả mạo. Cách dùng này gợi ý chatbot nên thiết kế thực tế và hoàn chỉnh nhất. Từ góc nhìn này, có hai vấn đề: hoặc chatbot không đạt chuẩn, nên lừa dối và khiếm khuyết; hoặc đạt, nên gây nhầm lẫn, cô lập hoặc bóc lột người dùng.
Nhưng giả định ngầm này sai bét. Chatbot người chết không nên dùng làm thay thế hay bạn đồng hành. Cũng không nên xây đến mức thực tế và hoàn chỉnh nhất. Thay vào đó, chúng nên phục vụ mục đích quen thuộc và phức tạp hơn, giúp ta vượt qua kiếp phàm trần không phải bằng phục sinh công nghệ, mà qua trí tưởng tượng.
Bất kỳ người đau buồn hay học lịch sử nào cũng biết mối quan hệ không kết thúc gọn gàng với cái chết; ký ức, tưởng tượng, câu hỏi và trả lời cứ quay cuồng trong đầu người sống, nhờ hiện vật và cộng đồng chia sẻ. Không gian thế tục để thực tế này nở hoa là nghệ thuật.
"Mọi thứ đều như lẽ phải, chẳng gì thay đổi, không ai chết bao giờ," Vladimir Nabokov viết trong hồi ký Speak, Memory (1951). Gợi ký ức tuổi thơ cho độc giả, ông vẽ bức tranh cảm giác sống động:
"Tôi lại thấy phòng học ở Vyra, hoa hồng xanh trên tường giấy, cửa sổ mở. Ánh nắng phản chiếu lấp đầy gương oval trên ghế da nơi chú tôi ngồi, hí hửng với cuốn sách rách. Cảm giác an toàn, sung túc, ấm áp lan tỏa ký ức tôi... Gương tràn đầy ánh sáng; một con ong vò vẽ bay vào và đập vào trần nhà."
Đoạn này có lẽ không chỉ sự kiện cụ thể, ong hay sách. Có lẽ là cảnh tổng hợp từ ấn tượng khác nhau. Khi Nabokov tả chú "hí hửng" với sách, ông đến từ ký ức tuổi thơ lọc qua suy luận người lớn – "hí hửng" không phải khái niệm trẻ con. Ký ức là không gian nắm ý nghĩa qua lớp vải chi tiết ấn tượng, và nghệ thuật là nơi chân dung chấm phá cuộc đời quá khứ sống mãi.
Chúng ta giữ những hiện vật kiểu này để nuôi dưỡng tưởng tượng về quá khứ và tổ tiên.
Ta sống qua vô số hư cấu ý nghĩa, ký ức cá nhân là một. Dạng ký ức này thường xây từ tổng hợp ấn tượng – hoa hồng xanh trên tường, ong, sách, biểu cảm khuôn mặt người thân – ta khâu chúng thành câu chuyện khi kể lại cảnh đời. Việc khâu này tạo hư cấu không đối lập sự thật. Trong Mimesis as Make-Believe (1990), triết gia Kendall Walton tả hư cấu là "điều phải tưởng tượng". Đoạn trên chỉ dẫn độc giả tưởng tượng phòng Nabokov ở Vyra. Phòng này thuộc thế giới hư cấu. Dù hiệu sách xếp Speak, Memory là "phi hư cấu văn học", thế giới nó chỉ dẫn là hư cấu theo Walton, chỉ khác loại hư cấu trong tiểu thuyết Pale Fire (1962) của Nabokov. Speak, Memory dùng tưởng tượng rộng để độc giả cảm nhận đề xuất: tuổi thơ tác giả nhuộm màu ấm áp và buồn bã. Theo khung nhìn của Walton, đoạn từ Speak, Memory và tương tự là "đạo cụ" "bắt buộc" và "thúc đẩy" tưởng tượng. Những tưởng tượng này mô tả bằng mệnh đề (ví dụ, ong đập trần) đúng trong thế giới hư cấu – tức thế giới độc giả Speak, Memory phải tưởng tượng. Bằng cách ở trong thế giới hư cấu kiểu này, ta tìm sự thật về quá khứ và mối quan hệ. Nghệ thuật hình thức hóa thế giới hư cấu và tìm kiếm sự thật trong đó.
Hiện vật cứu vớt như nhật ký và thư từ cũng phục vụ tìm kiếm. Khi Amy đọc thư năm 1967 từ bà nội gửi ông nội đi công tác, cô du hành thời gian, nơi chốn và góc nhìn. Cô tưởng tượng bà Hannah viết thư và ông Fredric nhận. Cô tưởng tượng ông cảm thấy sao khi biết vợ tăng lương 10 cent, vẻ mặt khi đọc con gái lớn thế nào. Tham chiếu lấp đầy bằng tưởng tượng dựa trên suy luận; giá trị 10 cent năm 1967, tuổi cô em họ. Thư là hiện vật lịch sử làm đạo cụ, quyết định nội dung thế giới hư cấu Amy xây khi tưởng tượng đời ông bà. Nó còn thúc đẩy Amy tưởng tượng thế giới ấy và ký ức liên quan. Chúng ta giữ hiện vật kiểu này để nuôi tưởng tượng về quá khứ và tổ tiên. Càng nhiều ví dụ giọng điệu của tổ tiên, ta càng phong phú nhận thức về bản sắc của họ, càng sâu sắc hiểu gia đình và bản thân.
Nhưng ngay cả khi không có đạo cụ hay thúc đẩy hữu hình như ảnh và thư, ta vẫn tưởng tượng dựa theo kết nối lỏng lẻo. Chuyện mơ hồ kể thoáng về cụ cố có thể làm đạo cụ, thúc đẩy tầm nhìn quá khứ – nếu người nghe hứng thú tưởng tượng. Chiếc mũ những năm 1890 có thể thúc đẩy ta tưởng tổ tiên đội. Càng chi tiết, cụ thể và đa phương thức đạo cụ và thúc đẩy, càng gần đại diện tưởng tượng với người từng sống.
Nhưng đại diện mãi là đại diện – bất kể chính xác cỡ nào.
Giống hồi ký, ảnh, thư, mũ và lịch sử miệng, chatbot người chết phục vụ đa mục đích tìm kiếm ký ức, mang ngữ cảnh đời, mối quan hệ và bản sắc khi giúp kết nối qua thời gian. Chúng làm đạo cụ giúp tạo thế giới hư cấu và thúc người dùng tiếp nhận vào thế giới. Ở đó, ta khám phá và tiếp tục mối quan hệ quan trọng. Vì chatbot không phải người mà đạo cụ giúp tạo trò chuyện tưởng tượng, người đối thoại của người dùng – nhân vật dựa theo người chết – không tồn tại độc lập trong cuộc trò chuyện. Người dùng tạo ra người đối thoại tưởng tượng qua tương tác với đạo cụ chatbot. Với cách này, chatbot như agency sáng tạo đặc biệt cho người dùng, nơi họ đóng vai nghệ sĩ sáng tạo và khán giả tiếp nhận, dẫn dắt và bị dẫn đến ý nghĩa, sâu sắc hay vui vẻ.
Sự phức tạp tương tác này không độc nhất. Con người giỏi đóng vai: đùa, giả vờ, chơi. Vì vậy, đánh giá của Weizenbaum về thư ký là coi thường. Không công bằng với trí thông minh cô ấy khi giả định cô ảo tưởng gán agency cho máy khi xin riêng tư với ELIZA. Có lẽ cô dùng ELIZA như thiết kế: đóng vai trị liệu tưởng tượng. ELIZA không phải nhà trị liệu; nó là đạo cụ, thực thể một phần cần người dùng kích hoạt.
Tiềm năng tưởng tượng này bị che khuất khi chatbot người chết bị hình dung là thay thế mỏng manh cho người thân mất. Hình dung này phổ biến trong khoa học viễn tưởng, như tập phim Black Mirror 'Be Right Back' (2013) nơi một phụ nữ đau buồn gắn bó với AI thay thế bạn đời đã chết. Và hình dung thay thế được chấp nhận bởi nhà phê bình và nhiều người dùng, như nhà báo Cody Delistraty trong The Grief Cure (2024), cố "tái tạo" người thân "chính xác nhất có thể", chỉ để cảm thấy "tan vỡ" khi "thực tế thay thế vỡ tan" và người thân "chết lần nữa".
Đây là cách nhìn sai về chatbot người chết. Thay vào đó, tiềm năng công nghệ sẽ hiểu tốt hơn nếu nghĩ như tác phẩm nghệ thuật – hoặc chính xác hơn, như biểu diễn kịch. Tương tác chatbot giống tham gia biểu diễn kịch hay game nhập vai. Trong đó, khán giả đóng vai tích cực trong chuyện. Dạng kịch tham gia sớm bao gồm lễ Dionysian hay kịch bí ẩn trung cổ. Ví dụ hiện đại: Brecht nỗ lực phá "bức tường thứ tư" trong kịch, và biểu diễn immersive nơi khán giả tự do khám phá không gian, tương tác với diễn viên.
Chatbot dựa theo dữ liệu ai đó giống diễn viên hoặc phác thảo nhân vật để biểu diễn đại diện nhân vật đó, như lính Nội Chiến tái hiện lịch sử, giả làm Elvis, hay Pentheus trong Dionysus in 69 (1969), phiên bản game nhập vai của vở The Bacchae Euripides. Chatbot người chết, như game nhập vai, cho phép khán giả tham gia trực tiếp thế giới hư cấu, từ đó quen dần tưởng tượng với người thật tương ứng nhân vật.
Ẩn dụ với kịch không hoàn hảo. Không như diễn viên con người, chatbot không hiện diện vật lý. Chúng không chọn có ý thức trong cách miêu tả nhân vật hay đồng xây dựng ý nghĩa với khán giả. Tuy nhiên, khung nhìn này hữu ích vì làm rõ và nhấn mạnh quan hệ giữa chatbot và người chết. Diễn viên không giống hay thay thế người thật họ đại diện; thay vào đó, họ truyền thông tin về họ và cảm giác đặc thù, phức tạp.
Người dùng tinh tế nên xem chatbot tương tự. Tùy thiết kế, chatbot đại diện người theo nhiều cách. Giả định chatbot mang – hoặc tìm mang – sao chép uy quyền người chết giống giả định diễn viên miêu tả nhân vật lịch sử trong kịch là miêu tả trung thành nhất. Giống cảm hứng nhân vật lịch sử từ nguồn khác nhau, dữ liệu cá nhân chảy từ khía cạnh bản sắc khác. Người không nói một giọng: hầu hết người ta cư xử khác hẳn trên mạng xã hội so với trong tin nhắn. Không có cách nào thiết kế chatbot là 'diễn viên' duy nhất vì không có góc nhìn tốt nhất hay định nghĩa về người đó, không có thế giới hư cấu tốt nhất gặp di sản là ai đó. Có vô số góc nhìn hữu ích, thông tin, thú vị, hài hước, lạ lùng, đẹp đẽ mà chatbot 'diễn viên' có thể dàn dựng, giống vô số cách diễn viên con người đóng vai, nhà văn soạn hồi ký, hay họa sĩ vẽ chân dung.
Hãy mang tầm nhìn này để nó sống động với vài khả năng tưởng tượng. Giả sử bạn hợp tác với kỹ sư tạo chatbot ông nội quá cố. Bạn quyết định xây chatbot chọn lọc để tưởng niệm qua câu ông viết hoặc nói thật. Nhưng muốn trò chuyện mượt, bạn thêm chức năng generative. Bạn lao vào nhiệm vụ quyết định viết mấy câu chuyện cứu rỗi vào dataset. Bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rõ rằng: câu trong thư xin việc giọng chuyên nghiệp khác giọng thân mật thư gia đình. Bạn có ghi âm, nhưng giọng nói ông sẽ khác khi viết – tính đa dạng trong một con người không dễ phân loại rõ.
Vậy thì, người xây chatbot buộc phải tự hỏi mấy câu khó về người chết: Tôi muốn nhớ họ thế nào? Người ấy nên được nhớ ra sao? Nỗ lực suy nghĩ xây chatbot nhấn mạnh sản phẩm cuối là đại diện, nhuộm màu sự lựa chọn và góc nhìn của người tạo ra chúng. Cuối cùng, bạn quyết trân trọng sự hài hước của ông nội, và muốn con bạn biết kinh nghiệm chiến tranh Thế Chiến II. Bạn thiết kế hai bot, huấn luyện dữ liệu khác, để biểu diễn hai mặt của ông nội. Bot lịch sử còn làm hướng dẫn lưu trữ gia đình, liên kết scan tài liệu gốc.
Giả sử có một khả năng khác: bạn mới mất bạn đời sau một tai nạn bi kịch. Người thân quay về nhịp sống bình thường, nhưng bạn vẫn chìm trong tang tóc, tìm hướng dẫn hỗ trợ lập kế hoạch tương lai. Bạn đời vẫn sống động trong đầu, và giữa một thế giới chấp nhận vắng họ làm bạn choáng. Vậy là, bạn cho công ty công nghệ dùng hết dữ liệu bạn đời để huấn luyện bot generative – bạn muốn nó có hiểu biết rộng và trò chuyện giống nhất. Và đây chuyện lệch khỏi Black Mirror. Nền tảng công ty cung cấp một cái khung quanh những cuộc trò chuyện: bot định kỳ "phá vai" kiểm tra, thúc đẩy suy ngẫm đại diện khớp với ký ức, trạng thái cảm xúc, và những tâm tư sâu sắc bạn đang có, giúp điều chỉnh bot nếu cần. Dùng bot thành quá trình định hình nỗi đau và đại diện cho người quá cố. Và vì liên tục có một cái khung bao quanh đại diện, bạn không thấy nó thay thế gì.
Chatbot có thể đóng vai người giám tuyển bảo tàng, nói với sự am hiểu sâu sắc về việc lưu trữ người đại diện.
Giả sử giờ bạn mất cả cha mẹ từ nhỏ. Bạn có gia đình riêng, gần đây tự hỏi cha mẹ mình từng có lựa chọn như thế nào. Bạn hứng thú với trí tuệ và góc nhìn của họ. Vì sao họ ra một quyết định nhất định cho gia đình? Thế là, bạn xây chatbot generative từ thông tin và dữ liệu liên quan suy nghĩ của cha mẹ về gia đình và cách nuôi dạy con cái. Bao gồm những trích viết họ, ký ức lời họ nói, cùng đoạn sách và media họ yêu quý liên quan tới chủ đề. Bạn tương tác chatbot như với một trí tuệ độc nhất; nó không đại diện cá nhân, nhưng cũng không phải là trí tuệ chung chung như ChatGPT. Nó đại diện cho một trí tuệ tập thể cụ thể.
Đây chỉ ví dụ. Khả năng thiết kế sáng tạo khổng lồ này như một khám phá thực hành nghệ thuật. Người thực hành nên nhìn nó như nghệ thuật và tài nguyên văn hóa giúp đối phó mất mát và tưởng niệm lịch sử. Ví dụ, chatbot có thể thiết kế nói như nhà ngoại cảm dẫn dắt người chết từ cõi tâm linh để nhấn mạnh sự chia cắt bởi cái chết và mang cảm giác huyền bí cho trải nghiệm tưởng tượng. Hoặc chatbot dùng 'hiệu ứng tha hóa' Brecht, kỹ thuật diễn ức chế đắm chìm và thúc đẩy khoảng cách thẩm mỹ giữa khán giả và sự kiện sân khấu, tạo chỗ để suy ngẫm. Kỹ thuật tha hóa bao gồm phá vai và thảo luận metatextual, như ví dụ bạn đời mất. Theo hướng này, chatbot có thể đóng vai giảm tuyển bảo tàng, nói một cách am hiểu về người đại diện và lưu trữ dữ liệu về họ.
Chatbot nhân vật công chúng có thể truyền giọng cách điệu người chết, ví dụ chatbot phóng đại phẩm chất riêng cho một huyền thoại, như Elvis giả. Lớp học có thể tạo bot dựa theo chân dung một người kể từ hồi ký; ví dụ, học sinh tiếp tục trò chuyện với Nabokov sau khi Speak, Memory kết thúc. Bạn có thể tạo bot huấn luyện nhật ký tuổi thơ, để tám với bản thân thời quá khứ. Cha mẹ lạm dụng có thể làm đại diện giận dữ nhất để xử lý chấn thương tuổi thơ trong liệu pháp chữa lành đứa trẻ bên trong bạn. Người lo âu có thể đại diện cách cho phép người dùng đọc suy nghĩ lo lắng để thúc đẩy đồng cảm hiểu biết. Chatbot có thể huấn luyện hết hồ sơ gia đình để nói giọng tổ tiên. Còn nữa, huấn luyện hết các tác phẩm từ các nhà tư tưởng vĩ đại đã mất: Plato, James Baldwin, Ursula K. Le Guin, hoặc các nhóm nhà tư tưởng từ thời kỳ: Beats, Siêu việt chủ nghĩa, thành viên OuLiPo. Khả năng rõ ràng là vô tận. Công nghệ này giúp ta đánh giá bản chất tổng hợp nhân vật ta tưởng tượng trong thế giới hư cấu và mục đích nhớ nhung khác nhau trong đời ta.
Nó đòi hỏi nhiều suy nghĩ và lao động từ người khởi xướng bot. Đúng vậy. Đại diện nghệ thuật tốt đòi hỏi công sức sáng tạo. Và công sức sáng tạo này quý giá vì chính nó. Thực tế, công sản xuất chatbot có thể ý nghĩa hơn sản phẩm cuối. Giống kịch nhập vai đòi hỏi quá trình và lặp lại, xây chatbot đòi hỏi phải tinh chỉnh liên tục.
Dù chatbot giúp giảm gánh điều hướng và tiếp cận lưu trữ, chúng không thu hẹp hay thay thế lưu trữ. Ta cũng nên nghi ngờ công ty công nghệ mang chatbot bán một cách dễ dàng, đúc sẵn, giả hoàn chỉnh. Thay vào đó, ta nên tìm công nghệ cho phép tạo và tinh chỉnh chatbot riêng – không đòi chuyên môn kỹ thuật rộng. Không lối tắt đến suy nghĩ. Và ta không nên cố vòng tránh quá trình sáng tạo quý giá.
Chuyển từ chatbot như bạn đồng hành sang công cụ nhớ nhung nghệ thuật làm phát sinh nhiều lo lắng phổ biến. Từ góc nhìn này, ta thấy 'diễn viên' chatbot không nhất thiết thực tế. Chúng không và sẽ không nắm bắt đầy đủ mọi thứ từ người chết. Chúng không lừa người dùng hành xử như người chết còn sống hoặc tin rằng đang nói với người thật. Ngược lại, chúng nhấn mạnh rằng, vắng mặt họ trong thế giới thật thì vẫn tương tác được với ký ức người chết trong không gian tưởng tượng. Hơn nữa, lo lắng về mối quan hệ một chiều với 'diễn viên' chatbot là lạc chỗ, vì đối tượng gắn bó tự nhiên của người dùng là người chết, và mở rộng nhân vật đại diện họ, chứ không phải công cụ tạo nhân vật. Những công cụ này – chatbot cụ thể trên nền tảng với dataset tiến hóa – thường thay thế và phù du. Nếu công cụ làm phục vụ mục tiêu nghệ thuật thay thương mại, gắn bó với chúng sẽ là cách nuôi dưỡng tinh thần thay vì nghiện ngập.
Một số người sợ tự do AI sẽ lấy cả di sản người chết. Với điều này, ta nhấn mạnh tự do là của ta, là chính ta tự do để ủy quyền. Chatbot người chết là đại diện sáng tạo mà người dùng nên đóng vai tích cực định hình. Tưởng tượng là phần không thể tách khỏi trong mọi đại diện sáng tạo quá khứ vì tưởng tượng không tách khỏi ký ức và diễn giải lịch sử. Chúng ta nhấn mạnh tưởng tượng không bỏ sự thật, mà cho thấy sự thật có thể chảy từ tưởng tượng ta. Ta nên phán xét đại diện AI bằng chuẩn phán xét mọi artifice tìm sự thật. Phim tiểu sử sến súa quá có thể đáng phê phán giống chatbot ngọt ngào né tránh. Thẩm mỹ khác của chatbot phục vụ mục đích khác trong đời ta, từ giải phóng cảm xúc đến trị liệu sâu sắc, trí tuệ phong phú đến giáo dục lịch sử. Và như mọi doanh nghiệp thẩm mỹ, giá trị chatbot tương xứng với suy nghĩ và nỗ lực – lựa chọn sáng tạo – do tác giả bỏ vào.
Tài nguyên văn hóa - kỹ nghệ không phải là thứ rẻ tiền. Chúng có thể cách mạng trong vấn đề của xã hội hiện đại với cái chết. Thay vì dụng cụ phủ nhận mất mát, chatbot người chết có thể là tài nguyên suy ngẫm về tử vong nói riêng và những người đã mất nói chung. Chúng mang cảm giác cộng đồng nhân loại tiền nhiệm của ta, và hỗ trợ, thậm chí thúc đẩy mối dây yêu thương không biến mất trong đau buồn. Chatbot người chết tồn tại trong thanh ghi phổ quát nghệ thuật, tưởng tượng và tinh thần. Thanh ghi này đóng vai trò không thể loại trừ trong thịnh vượng nhân loại, và ta lạc quan 'diễn viên' chatbot có thể dẫn đến thịnh vượng phù hợp kỳ lạ với thời đại của chúng ta.
Quan điểm chatbot phác thảo trong bài viết này không phải thuốc chữa bách bệnh. Dù tầm nhìn ta được áp dụng và hạ tầng cần cho dùng sáng tạo có sẵn, vẫn có cơ hội lạm dụng và bóc lột. Chatbot người chết chắc chắn thu hút công ty công nghệ với động cơ kinh tế xung đột lợi ích người dùng và nghệ thuật. Có rủi ro không gian nghệ thuật ta hình dung bị thuộc địa hóa bởi sản phẩm thương mại nhạt nhẽo, nghiện, đúc sẵn, kiếm tiền cao, game hóa, chỉ làm ta tê liệt vấn đề tinh thần. Nhưng nghệ thuật và không gian sáng tạo lâu nay là nguồn kháng cự có thực lực thống trị đời người. Đừng bỏ công nghệ mới cho hiệu ứng làm phẳng lợi ích thương mại hẹp. Thay vào đó, hãy khẳng định tiềm năng AI thúc đẩy sứ mệnh tinh thần sáng tạo không thể kìm hãm của nhân loại, có trách nhiệm với lịch sử và ký ức, tìm kiếm sâu sắc và kết nối.
Tổng hợp từ Aeon
Nhận xét
Đăng nhận xét